Những điểm mới của dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử

Thứ hai - 14/09/2026 21:54
Nhằm tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, Bộ Công an đang chủ trì xây dựng Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử, dự kiến trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 10/2026. Theo đó, dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử gồm 8 chương, 48 điều. Quy định về hoạt động định danh và xác thực điện tử, bao gồm: đối tượng và mô hình định danh điện tử; danh tính điện tử; xác thực điện tử; dữ liệu định danh điện tử; hệ thống và nền tảng định danh và xác thực điện tử quốc gia; dịch vụ định danh và xác thực điện tử; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; quản lý nhà nước.
Những điểm mới của dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử
Dưới đây là một số điểm mới được Bộ Công an đề xuất trong dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử:
1. Quy định chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, nguyên tắc định danh và xác thực điện tử, nguyên tắc áp dụng Luật, quản lý nhà nước và các hành vi bị nghiêm cấm. Nội dung quy định nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động định danh, xác thực điện tử; bảo đảm chủ quyền quốc gia, chủ quyền công nghệ, chủ quyền dữ liệu; bảo vệ dữ liệu cá nhân; phòng, chống giả mạo, gian lận danh tính, cụ thể:
(1) Quy định Bộ Công an là đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về định danh và xác thực điện tử.
(2) Quy định nguyên tắc mỗi đối tượng chỉ có một danh tính điện tử duy nhất, bảo đảm chính xác, đầy đủ và được cập nhật kịp thời; không thu thập lại dữ liệu đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
(3) Quy định các hành vi bị nghiêm cấm như giả mạo, chiếm đoạt, mua bán, cho thuê, cho mượn danh tính điện tử; thu thập, sử dụng, chia sẻ trái phép dữ liệu định danh điện tử; can thiệp, phá hoại Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia; sử dụng sinh trắc giả, hình ảnh giả tạo bằng công nghệ để giả mạo danh tính.
2. Quy định về định danh và danh tính điện tử, gồm đối tượng định danh điện tử, mô hình thực hiện hoạt động định danh điện tử, đăng ký định danh điện tử, cấp mã định danh, phân loại, lưu trữ, cập nhật, khai thác, tạm dừng, chấm dứt hiệu lực và liên kết danh tính điện tử, cụ thể:
(1) Mở rộng đối tượng định danh điện tử gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, thiết bị, tài sản; dữ liệu, tài nguyên số, tên miền, ứng dụng, phần mềm, dịch vụ số, quyền tài sản, tài sản số; hoạt động, sự kiện, giao dịch, hành vi, tương tác; địa điểm và không gian.
(2) Quy định mã định danh gồm mã định danh quốc gia và mã định danh tự chủ; mỗi đối tượng chỉ được cấp một mã định danh, bảo đảm nguyên tắc duy nhất, không trùng lặp.
(3) Quy định giá trị sử dụng của danh tính điện tử; đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, danh tính điện tử có giá trị pháp lý tương đương việc cung cấp, sử dụng, xuất trình giấy tờ, tài liệu có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, giao dịch và hoạt động khác.
(4) Quy định liên kết danh tính điện tử giữa đối tượng được định danh với chủ thể sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc các bên tham gia hoạt động, sự kiện, giao dịch, hành vi, tương tác để phục vụ xác thực, truy vết và xác định trách nhiệm pháp lý có liên quan.
3. Quy định về xác thực danh tính điện tử, gồm đối tượng xác thực điện tử, mô hình xác thực điện tử, hoạt động xác thực điện tử, mức độ xác thực, phương tiện xác thực, ghi nhận, lưu trữ, sử dụng kết quả xác thực, chứng thư điện tử xác nhận thông tin và truy vết danh tính điện tử, cụ thể:
(1) Quy định mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh điện tử đều là đối tượng xác thực điện tử.
(2) Quy định 03 mô hình xác thực điện tử gồm mô hình xác thực tập trung, mô hình xác thực trung gian và mô hình xác thực độc lập.
(3) Quy định 03 mức độ xác thực điện tử; trong đó mức độ cao nhất sử dụng tối thiểu hai yếu tố xác thực, có ít nhất một yếu tố thuộc nhóm sinh trắc học hoặc yếu tố kỹ thuật đặc trưng.
(4) Quy định kết quả xác thực điện tử được ghi nhận, lưu trữ; dữ liệu về kết quả xác thực được sử dụng làm nguồn chứng cứ theo quy định của pháp luật về tố tụng; kết quả xác thực chỉ có giá trị trong phạm vi giao dịch đã được xác thực.
(5) Quy định chứng thư điện tử xác nhận thông tin là công cụ xác minh bổ sung sau khi hoàn thành xác thực danh tính điện tử, có giá trị pháp lý tương đương giấy tờ tương ứng trong phạm vi pháp luật quy định.
4. Quy định về Hệ thống và Nền tảng định danh, xác thực điện tử quốc gia, gồm Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử, Nền tảng định danh và xác thực điện tử, Ứng dụng định danh quốc gia, khai thác, sử dụng dữ liệu và phí khai thác dữ liệu, cụ thể:
(1) Quy định Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử, Nền tảng định danh và xác thực điện tử, Ứng dụng định danh quốc gia, giao diện lập trình ứng dụng mở và các thành phần liên quan.
(2) Quy định dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử có giá trị khai thác, sử dụng như dữ liệu gốc; dữ liệu phải được lưu trữ tại Việt Nam.
(3) Quy định Ứng dụng định danh quốc gia có các chức năng cơ bản như truy cập, quản lý dữ liệu; cấp chữ ký số và phương thức xác thực; cung cấp dịch vụ công; tích hợp nền tảng thanh toán quốc gia; thiết lập kênh giao tiếp số giữa Nhà nước và công dân.
5. Quy định về dịch vụ định danh và xác thực điện tử, gồm sản phẩm, dịch vụ định danh và xác thực điện tử; điều kiện cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử, cụ thể:
(1) Quy định tổ chức cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử phải đáp ứng điều kiện về pháp nhân, năng lực tài chính, hạ tầng kỹ thuật, nhân sự chuyên trách, quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, an toàn thông tin và kết nối với Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia.
(2) Quy định về các quy trình xử lý trong trường hợp tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử chấm dứt hoạt động.
6. Quy định về liên thông, hợp tác quốc tế; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động định danh, xác thực điện tử, cụ thể:
(1) Quy định việc công nhận danh tính điện tử, kết quả xác thực điện tử nước ngoài khi đáp ứng điều kiện về mức độ xác thực, tiêu chuẩn kỹ thuật và trên cơ sở điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.
(2) Quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử; quyền, nghĩa vụ của chủ thể danh tính điện tử.
7. Quy định điều khoản thi hành, gồm sửa đổi, bổ sung một số luật có liên quan, điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành, cụ thể:
(1) Sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử theo hướng công nhận chữ ký điện tử định danh quốc gia được tạo lập thông qua xác thực danh tính điện tử bằng ứng dụng định danh quốc gia.
(2) Quy định chữ ký điện tử định danh quốc gia có giá trị pháp lý tương đương chữ ký số trong giao dịch điện tử với cơ quan nhà nước và các giao dịch dân sự, kinh tế khác.
(3) Quy định chuyển tiếp đối với danh tính điện tử, tài khoản định danh điện tử đã được cấp trước ngày Luật có hiệu lực; tổ chức đang cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử và hệ thống định danh, xác thực điện tử3, truy xuất nguồn gốc đang vận hành phải điều chỉnh để đáp ứng quy định của Luật trong thời hạn 18 tháng

Nguồn tin: Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây