Module logo

An ninh trật tự

Những câu hỏi chung:

  • Câu hỏi Công an tỉnh cho tôi hỏi, khi thấy xe cứu thương phát tín hiệu yêu cầu các phương tiện nhường đường, nếu trường hợp xe phía trước đang dừng chờ đèn đỏ, và bắt buộc phải vượt đèn đỏ mới có thể nhường đường cho xe cứu thương đi thì có bị phạt lỗi vượt đèn đỏ không?
  • Trả lời Tôi thấy nhiều trường hợp xe ô tô dán phù hiệu “báo chí”, “xe hộ đê”… vì nghĩ được ưu tiên bỏ qua vi phạm lỗi khi tham gia giao thông. Tôi muốn hỏi Công an tỉnh, theo pháp luật hiện hành, danh mục xe ưu tiên được quy định như thế nào? Trường hợp xe không được quyền ưu tiên mà lắp đặt, sử dụng các thiết bị phát tín hiệu ưu tiên sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Câu hỏi Tôi được biết, theo quy định, biển số xe định danh không áp dụng đối với biển 3 số và 4 số mà chỉ áp dụng với biển 5 số. Tôi muốn hỏi Công an tỉnh, trường hợp biển số xe 5 số đã đăng ký trước ngày 15/8/2023 thì được xử lý như thế nào? Trường hợp chủ xe đang sử dụng xe mang biển 3 và 4 số có được tham gia giao thông không?
  • Trả lời
    Ti khon 1, khon 2, khon 3, khon 4 Điu 39 ca Thông tư 24/2023/TT-BCA ngày 01/7/2023 ca B Công an quy định như sau:
     

    1. Đối vi xe đã đăng ký bin 5 s trước ngày Thông tư này có hiu lc thi hành (15/8/2023) mà chưa làm th tc thu hi thì s đó được xáđịnh là bin s định danh ca ch xe.
     

    2. Đối vi xe đã đăng ký bin 5 s, nếu ch xe đã làm th tc thu hi trước ngày Thông tư này có hiu lc thi hành thì s bin s đó được chuyn vào kho bin s để cp bin s theo quy định.
     

    3. Đối vi xe đã đăng ký bin 5 s có ký hiLDDAMĐR thì tiếp tđược phép tham gia giao thông, k c khi cđổi, cp li bin s, tr trường hp ch xe có nhu cu cp sang bin s theo quy định ca Thông tư này. 
     

    4. Đối vi xe đã đăng ký bin 3 hoc 4 s thì tiếp tđược phép tham gia giao thông, tr trường hp ch xe có nhu cu cp sang bin s định danh hoc khi ch xe thc hin th tc cđổi chng nhđăng ký xe, cđổi bin s xe, cp li chng nhđăng ký xe, cp li bin s xe hođăng ký sang tên, di chuyn xe theo quy định ca Thông tư này thì thc hin thu hi bin 3 hoc 4 s đó và cđổi sang bin s định danh theo quy định.
     

     
  • Câu hỏi Thời gian gần đây, tôi thấy ngày càng nhiều vụ giả biển số, che biển, thậm chí còn giả mạo màu sắc, thông tin đăng kiểm giả của xe ô tô nhằm tránh bị thu phí tại các trạm thu phí không dừng hay tránh “phạt nguội” gây khó khăn cho chủ xe thật. Về việc này Công an tỉnh cho tôi hỏi một số nội dung sau: - Hành vi nêu trên nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý như thế nào? - Trường hợp lái xe sử dụng biển số giả vi phạm giao thông mà bị “phạt nguội” dẫn đến chủ xe thật bị phạt khi đi đăng kiểm thì chủ xe thật phải xử lý việc này như thế nào?
  • Trả lời Thi gian gđây, tôi thy ngày càng nhiu v gi bin s, che bin, thm chí còn gi mo màu sc, thông tin đăng kim gi ca xe ô tô nhm tránh b thu phí ti các trm thu phí không dng hay tránh pht ngui gây khó khăn cho ch xe tht. V vic này Công an tỉnh cho tôi hi mt s ni dung sau:
     

    - Hành vi nêu trên nếu b phát hin s b x lý như thế nào?
     

    - Trường hp lái xe s dng bin s gi vi phm giao thông mà b pht ngui dđến ch xe tht b pht khi đđăng kim thì ch xe tht phi x lý vic này như thế nào?
     
  • Câu hỏi Vừa qua, tại đường vành đai 3 trên cao, xuất hiện một nữ tài xế điều khiển xe ô tô đi ngược chiều gây nguy hiểm cho các phương tiện khác và khiến dư luận rất bức xúc. Công an tỉnh cho tôi hỏi, hành vi đi ngược chiều trên đường cao tốc sẽ bị xử lý như thế nào? Vi phạm ở mức độ nào sẽ bị truy tố và mức hình phạt cho hành vi này khi bị truy tố như thế nào?
  • Trả lời

    V vđề này, Công an tỉnh tr li như sau:

    1. Hành vi đi ngược chiều trên đường cao tốc sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và được áp dụng theo Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng, cụ thể: Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng (tại điểm a khoản 8 Điều 5), tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 05 tháng đến 07 tháng (điểm đ khoản 11 Điều 5).
     

    2. Vi phạm ở mức độ nào sẽ bị truy tố và mức hình phạt cho hành vi này bị truy tố như thế nào?
     

    Tại Điều 260, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên bị cơ quan chức năng truy tố theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm.

  • Câu hỏi Bộ Công an cho tôi hỏi, doanh nghiệp chúng tôi mong muốn kinh doanh về dịch vụ kiểm tra định kỳ và bảo trì, bảo dưỡng hệ thống phòng cháy, chữa cháy và thi công thiết kế hệ thống phòng cháy, chữa cháy cho các cơ sở thì cần xin cấp giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ phòng cháy, chữa cháy như thế nào theo đúng quy định của pháp luật?
  • Trả lời Theo quy định của Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành:
     
    - Đối với việc kinh doanh dịch vụ về kiểm tra định kỳ và bảo trì, bảo dưỡng hệ thống phòng cháy, chữa cháy (PCCC) không thuộc ngành nghề kinh doanh dịch vụ về PCCC, do đó trường hợp doanh nghiệp bảo đảm điều kiện về con người, phương tiện, thiết bị (có người có chuyên môn kỹ thuật; có phương tiện, thiết bị phù hợp để thực hiện) thì được thực hiện theo quy định.
     
    - Đối với ngành nghề: Thi công, lắp đặt hệ thống PCCC và Tư vấn thiết kế về PCCC là ngành nghề kinh doanh dịch vụ về PCCC (ngành nghề kinh doanh có điều kiện). Do đó, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh ngành nghề trên sau khi được cơ quan Công an cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh về Thi công, lắp đặt hệ thống PCCC và Tư vấn thiết kế về PCCC.
     
    + Điều kiện để được cấp Giấy xác nhận và hồ sơ đề nghị cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ PCCC đối với ngành nghề thi công, lắp đặt hệ thống PCCC và tư vấn thiết kế về PCCC thực hiện theo quy định tại Điều 41 và khoản 1 Điều 45 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.
     
    + Hiện nay, việc tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính về cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ PCCC được thực hiện trên môi trường điện tử, do đó Doanh nghiệp đăng ký tài khoản và nộp hồ sơ đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 12 Điều 45 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP trên Cổng dịch vụ công của Bộ Công an, địa chỉ: https://dichvucong.bocongan.gov.vn
     
  • Câu hỏi Hiện nay, nạn đua xe trái phép có dấu hiệu xuất hiện trở lại và hậu quả của hành vi đua xe trái phép đang là một vấn đề gây bức xúc đối với người dân. Bộ Công an cho tôi hỏi, hành vi đua xe trái phép và người cổ vũ đua xe trái phép sẽ bị xử lý như thế nào? Hai hành vi nêu trên được quy định xử phạt cụ thể tại văn bản nào?
  • Trả lời - Tại Điều 34 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ) quy định:
     
    "1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
     
    a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;
     
    b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.
     
    2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến l5.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.
     
    3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người đua xe ô tô trái phép.
     
    4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phưong tiện thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
     
    a) Thực hiện hành vi quy định tại điểm b Khoản 1 Điều này bị tịch thu phương tiện (trừ súc vật kéo, cưỡi);
     
    b) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng và tịch thu phương tiện".
     
    - Trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 266 (Tội đua xe trái phép) hoặc Điều 318 (Tội gây rối trật tự công cộng) Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
     
  • Câu hỏi Tôi được biết nếu xảy ra cháy, nổ tại hộ gia đình kết hợp kinh doanh cho thuê nhà dẫn đến tổn hại về sức khỏe cho người thuê thì chủ hộ sẽ bị phạt và phải chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho nạn nhân có đúng hay không? Tuy nhiên, tôi muốn biết cụ thể các mức phạt vi phạm quy định về phòng, chống cháy, nổ tại hộ gia đình kết hợp kinh doanh cho thuê nhà quy định như thế nào? Và khi nào sẽ bị truy cứu hình sự liên quan đến vi phạm quy định về phòng, chống cháy, nổ?
  • Trả lời - Các hành vi vi phạm để xảy ra cháy, nổ, tùy theo mức thiệt hại bị phạt tiền quy định cụ thể tại Mục 3 Nghị định số 144/2021/NÐ-CP của Chính phủ và buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 51 Nghị định số 144/2021/NÐ-CP như sau: “Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 61%; Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này dưới 61%".
     
    - Các hành vi vi phạm về phòng cháy, chữa cháy bị truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy như sau:
    “Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
    1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
    a) Làm chết người;
    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
    d) Gây thiệt hại về tài sản từ l00.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
     
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 08 năm:
    a) Làm chết 02 người;
    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
    c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
     
    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
    a) Làm chết 03 người trở lên;
    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
    c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
     
    4. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
     
    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".
     
  • Câu hỏi Năm 2002 tôi tham gia lực lượng Công an xã bán chuyên trách, công tác liên tục cho đến nay. Theo pháp lệnh Công an xã và theo khoản 4 Điều 7 Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định: "Phó trưởng Công an xã và Công an viên có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng thì được hưởng trợ cấp một lần, cứ mỗi năm công tác được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân phụ cấp hiện hưởng".

    Bộ Công an cho tôi hỏi nếu sau ngày 01/7/2024, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở có hiệu lực, nếu tôi vẫn tiếp tục công tác trong lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở thì có tiếp tục tính thời gian công tác trước đó cho tôi và giải quyết chế độ như trong Nghị định số 73 không? Vì khi thành lập lực lượng mới khả năng tôi sẽ không còn chế độ như trước đó nữa.
  • Trả lời Khoản 1 Điều 23 Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở quy định: “Người tham gia Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở được hưởng tiền hỗ trợ thường xuyên hằng tháng, được hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế theo mức do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định". 

    Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã, quy định: "Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên thực hiện bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế".

    Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 73/2009/NĐ-CP, quy định: "Phó trưởng Công an xã và Công an viên có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng thì được hưởng trợ cấp một lần, cứ mỗi năm công tác được tính bằng 1,5 tháng phụ cấp hiện hưởng...”.

    Nếu bạn tham gia bảo hiểm xã hội liên tục từ năm 2002 đến nay (22 năm) và bạn tiếp tục tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở thì thời gian 22 năm tham gia bảo hiểm xã hội (thời gian công tác liên tục trong lực lượng Công an xã bán chuyên trách) được giữ nguyên và được cộng vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (khi tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở). Sau này, bạn có nguyện vọng xin thôi tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, thôi không tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, thì được hưởng chế độ lương hưu hằng tháng theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (không được hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với 22 năm công tác liên tục trong lực lượng Công an xã bán chuyên trách mà nghỉ việc vì lý do chính đáng theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định số 73/2009/NĐ-CP).

     
    Nếu bạn không tham gia bảo hiểm xã hội từ năm 2002 đến nay: Các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công an đang tham mưu với lãnh đạo Bộ có văn bản hướng dẫn chính quyền các địa phương giải quyết chế độ chính sách đối với trường hợp này trước khi Pháp lệnh Công an xã năm 2008, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2024).
     
  • Câu hỏi Hiện nay tôi 33 tuổi là Trưởng thôn trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá và kiêm Công an viên bán chuyên trách. Đến ngày 01/7/2024 khi Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở có hiệu lực thì lực lượng Công an xã bán chuyên trách sẽ kết thúc nhiệm vụ. Trường hợp tôi có nguyện vọng và làm đơn xin tham gia lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở với cương vị đang là Trưởng thôn thì tôi có được kiêm nhiệm và tham gia tổ bảo vệ an ninh, trật tự hay không?
  • Trả lời

    Khoản 1 Điều 14 Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở quy định: "Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở được kiện toàn từ lực lượng Bảo vệ dân phố, Công an xã bán chuyên trách đang được tiếp tục sử dụng và Đội trưởng, Đội phó Đội dân phòng hoặc được tuyển chọn theo quy định của Luật này". Bạn hiện đang là Công an xã bán chuyên trách đang được tiếp tục sử dụng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, thuộc diện được kiện toàn tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở (nếu bạn có nguyện vọng); Luật không cấm người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở tham gia hoạt động trong các lực lượng, tổ chức khác hoặc người đang tham gia các lực lượng, tổ chức khác tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.

     

    Tuy nhiên, việc bạn kiêm nhiệm thêm chức danh khác (ví dụ như Trưởng thôn) phải được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương (theo điểm b khoản 3 Điều 34 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố: "Căn cứ vào quỹ phụ cấp được ngân sách trung ương khoán cho mỗi cấp xã, mỗi thôn, tổ dân phố quy định tại các khoản 1, 2 Điều này; nguồn kinh phí ngân sách chi cho cải cách chính sách tiền lương của địa phương; các quy định của pháp luật có liên quan và đặc thù của từng cấp xã, từng thôn, tổ dân phố, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể những nội dung sau: b) Việc kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố kiêm nhiệm người trực tiếp tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố").

  • Câu hỏi Tôi nhận được một món quà là thực phẩm chức năng, tôi nghi ngờ món quà này bị tẩm ma túy. Bộ Công an cho tôi hỏi, tôi muốn giám định món quà có bị tẩm ma túy thật hay không thì trình tự, thủ tục như thế nào?
  • Trả lời Theo khoản 2, 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012 và Luật số 56/2020/QH14 ngày 10/6/2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp thì công dân trong câu hỏi không phải là người được yêu cầu giám định theo Luật, đồng thời các tội về ma túy là các tội hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Do đó, khi gặp các trường hợp nêu trên, đề nghị công dân trình báo thông tin với cơ quan Công an xã, phường, thị trấn để được hướng dẫn xử lý theo đúng quy định pháp luật.
  • Câu hỏi Hiện nay, có tình trạng mua bán trái phép, sử dụng trang phục, phù hiệu, số hiệu, giấy Chứng minh Công an nhân dân và giả danh Công an để phạm tội, nhiều đối tượng đã lợi dụng việc này để giả danh Công an nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người dân. Bộ Công an cho tôi hỏi, hành vi mua bán trái phép và sử dụng trang phục Công an để phạm tội sẽ bị xử lý như thế nào? Làm thế nào để nhận diện các đối tượng giả danh Công an?
  • Trả lời

    1.1. Về hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép Cờ truyền thống, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của lực lượng CAND

    Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của lực lượng CAND chỉ dành riêng cho sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và học viên CAND sử dụng theo quy định; được Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết việc sử dụng và lộ trình sản xuất, cấp phát. Người được cấp phát có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn cẩn thận và khi sử dụng phải đúng mục đích, đúng quy định; khi chuyển Ngành, thôi việc hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc thì Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm thu hồi theo quy định. Khoản 3 Điều 7 Nghị định 160/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ quy định Cờ truyền thống, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của lực lượng CAND (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 29/2016/NĐ-CP ngày 21/4/2016) quy định như sau: "Nghiêm cấm cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân sản xuất, làm giả, tàng trữ, đổi, mua, bán, sử dụng trái phép Cờ truyền thống, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, trang phục Công an nhân dân. Trường hợp vi phạm thì tùy tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật".

    1.2. Về xử phạt hành chính 

    Những cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về quản lý, sử dụng trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, giấy chứng minh CAND hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng CAND sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 20 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình với mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, giấy chứng minh CAND hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng CAND.

    Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi mua, bán hoặc đổi trái phép trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, giấy chứng minh CAND hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng CAND.

    Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất trái phép hoặc làm giả trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu, giấy chứng minh CAND hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng CAND.

    Các hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính.

    Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

    1.3. Về xử lý hình sự 

    Trong trường hợp sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trang phục, cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu CAND với số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn, đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu, xử lý trách nhiệm hình sự theo Điều 190 về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm; Điều 191 về tội Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm và Điều 192 về tội Sản xuất, buôn bán hàng giả của Bộ luật Hình sự 2015 với mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 15 năm tù.

    Đối với các cá nhân, tổ chức sử dụng trái phép Cờ truyền thống, Công an hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, trang phục CAND để giả danh Công an nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ bị truy cứu, xử lý trách nhiệm hình sự theo Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.

    Trường hợp làm giả, sử dụng giấy chứng minh CAND hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng CAND thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì ngoài tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có thể bị truy cứu, xử lý trách nhiệm hình sự theo Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015 về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

    1.4. Nhận diện các đối tượng giả danh Công an 

    Để phát hiện hành vi giả danh Công an, người dân cần nhận biết các thủ đoạn giả danh Công an và vận dụng một số cách nhận biết sau:

    - Quan sát về mặt hình thức bên ngoài: Đây là cách đơn giản nhất để phát hiện các đối tượng giả danh Công an, cụ thể: Các đối tượng giả danh Công an tiến hành các hoạt động tuần tra, kiểm soát, liên hệ thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự thường sử dụng trang phục không đồng bộ, không đúng quy định, công cụ hỗ trợ, số hiệu, giấy tờ của ngành Công an không đúng quy định. Trong trường hợp này, người dân chỉ cần quan sát thái độ, cách thể hiện, tư thế, lễ tiết, tác phong, cử chỉ có thể phân biệt được họ là Công an thật hay giả. Đối tượng giả danh Công an luôn cố tình để lộ một phần trang phục, khoe công cụ hỗ trợ như khóa số 8, dùi cui, súng..., cố tình để người khác thấy giấy chứng minh CAND hoặc các giấy tờ khác dành riêng cho lực lượng CAND. Nếu chưa có cơ sở xác định họ giả danh Công an, còn nghi ngờ, cần kết hợp với các cách thức khác để kiểm tra. Tuy nhiên, cần chú ý đề cao cảnh giác, chỉ nghe họ nói, không làm theo họ.

    - Gợi mở để đối tượng nói thật nhiều về lĩnh vực công tác Công an: Nếu nghi ngờ một người giả danh Công an cần phải khéo léo gợi mở để họ nói về lĩnh vực công tác của mình càng nhiều càng tốt vì càng nói nhiều đối tượng càng bộc lộ sơ hở. Có thể hỏi đối tượng những thông tin cơ bản như: Trước đây học trường nào, ở đâu? Điều kiện tuyển dụng vào ngành Công an thế nào? Đơn vị hiện tại địa chỉ ở đâu, lãnh đạo đơn vị là ai? Chức vụ, nhiệm vụ cụ thể hiện nay là gì?... Nếu nghi ngờ, có thể tạo lý do hợp lý để chụp ảnh đối tượng, ghi âm lời nói của đối tượng để làm bằng chứng đối chiếu hoặc tố giác với cơ quan Công an. Sau khi tiếp nhận thông tin từ đối tượng, tốt nhất không nên làm theo yêu cầu của đối tượng, khéo léo từ chối, đồng thời phân tích, đánh giá thông tin để xác định đối tượng có phải là người giả danh Công an hay không.

    - Phân tích, tổng hợp, đánh giá: Cần phân tích các thông tin cơ bản mà đối tượng đã nói, đã kể, rút ra những thông tin đúng, thông tin sai sẽ đánh giá được đối tượng nói thật hay nói dối, có phải giả danh Công an hay không. Nếu không đủ khả năng đánh giá, có thể tổng hợp thông tin sau đó nhờ người thân am hiểu về lĩnh vực Công an, những người đang công tác trong ngành Công an hoặc Cảnh sát khu vực phụ trách địa bàn nơi người dân cư trú, trực ban đơn vị Công an nơi gần nhất phân tích, đánh giá, không nên vội tin đối tượng, làm theo lời của đối tượng.

    - Đối chiếu, kiểm tra: Trong trường hợp đã đánh giá nhưng chưa đủ cơ sở xác định đối tượng là người giả danh Công an hay không, cần thực hiện bước đối chiếu, kiểm tra. Từ việc phân tích, tổng hợp thông tin do đối tượng cung cấp, kết quả quan sát, đánh giá, tư vấn của người trong ngành Công an... có thể dùng để đối chiếu, kiểm tra xác định đối tượng có hành vi giả danh Công an. Như vậy, để nhận biết đối tượng giả danh Công an, tránh bị các đối tượng này lừa đảo, người dân cần phải tìm hiểu những thủ đoạn phổ biến của loại đối tượng này, nâng cao cảnh giác, không vội tin đối tượng, vận dụng đồng bộ một số cách nhận biết, kiểm tra, đánh giá để xác định và có cách xử lý hiệu quả nhất.

  • Câu hỏi Thời gian gần đây, nhiều người dân đang có chất kích thích trong người như rượu, bia tham gia giao thông bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra, kiểm soát, đo nồng độ cồn đã có những hành động không hợp tác, chống đối bất chấp gây nguy hiểm đến tính mạng của lực lượng Cảnh sát giao thông. Bộ Công an cho tôi hỏi, hành vi chống đối, cản trở và gây nguy hiểm cho lực lượng Cảnh sát giao thông sẽ bị xử lý như thế nào?
  • Trả lời Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ) hoặc xử lý hình sự theo quy định tại Điều 330 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội chống người thi hành công vụ.
  • Câu hỏi Bộ Công an cho tôi hỏi, con tôi năm nay được 15 tuổi, một cơ sở kinh doanh thuốc lá điện tử vẫn bán thuốc lá điện tử cho con tôi dù chưa đủ tuổi để sử dụng thì có vi phạm pháp luật hay không? Con tôi thường xuyên sử dụng thuốc lá điện tử, tôi lo lắng có tẩm chất gây nghiện nên cháu không thể bỏ được dù tôi đã khuyên ngăn, Bộ Công an có khuyến cáo thế nào về tác hại của thuốc lá điện tử hay không?
  • Trả lời

    1. Quy định của pháp luật và khuyến cáo về tác hại của thuốc lá điện tử

    Thuốc lá điện tử (TLĐT) không đáp ứng quy định về khái niệm thuốc lá và nguyên liệu của thuốc lá theo quy định của pháp luật hiện hành, không thuộc điều chỉnh của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Hiện, TLĐT không thuộc danh mục mặt hàng cấm sản xuất, kinh doanh hay sản xuất, kinh doanh có điều kiện. Pháp luật cũng chưa quy định độ tuổi được mua bán, sử dụng TLĐT.

     

    Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn trong và ngoài nước, tất cả các loại thuốc lá đều độc hại, bao gồm cả TLĐT. Không có bằng chứng nào chứng minh TLĐT ít gây hại hơn thuốc lá thông thường. TLĐT thường có nicotine gây nghiện mạnh cho người sử dụng và việc hít các hương liệu trong dung dịch TLĐT gây ra các tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thanh thiếu niên. Các sản phẩm thuốc lá mới có nguy cơ cao tiềm ẩn và phát sinh tệ nạn xã hội, nhất là sử dụng ma túy và các chất gây nghiện (theo một số nghiên cứu, nguy cơ sử dụng ma túy gấp 3,5 lần so với không hút TLĐT). Thế giới và Việt Nam đều đã ghi nhận ma túy được pha trộn vào trong tinh dầu TLĐT (chủ yếu là cần sa tổng hợp) và các trường hợp ngộ độc do sử dụng TLĐT có chứa chất ma túy.

     

    Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, tình trạng mua bán, sử dụng thuốc lá điện tử có pha trộn, phun tẩm ma túy (cần sa tổng hợp) đang diễn biến phức tạp, nhất là trên không gian mạng. Đối tượng sử dụng chủ yếu là giới trẻ. Số vụ, số đối tượng, tang vật bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ tăng mạnh về số lượng, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi.

     

    Các đối tượng thường xuyên tạo ra các sản phẩm TLĐT có chứa chất ma túy với nhiều mẫu mã, tên gọi, chất ma túy khác nhau, đi liền với các quảng cáo gây hiểu lầm (có tác dụng thần kỳ, tạo khoái cảm, tăng lực, không có chất cấm, không có tác hại...). Sử dụng các chất ma túy mới, chưa nằm trong Danh mục để tạo các sản phẩm TLĐT có chứa chất ma túy nhằm trốn tránh sự xử lý của pháp luật.

     

    2. Định hướng chính sách quản lý Nhà nước về thuốc lá điện tử

    Do tính độc hại của TLĐT, ngày 13/6/2019, Bộ Công thương có Công văn số 534/XNK-TMQT gửi Tổng cục Hải quan về việc "mặt hàng thuốc lá điện tử, thuốc lá điếu loại không cháy, sử dụng cho tẩu IQOS và tương tự chưa được nhập vào Việt Nam".

     

    Theo thống kê chính thức của Tổ chức Y tế thế giới, có 34 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng chính sách cấm hoàn toàn (sản xuất, nhập khẩu, mua bán) các sản phẩm TLĐT. Riêng khu vực Asean có 05 nước: Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Brunei cấm hoàn toàn.

     

    Ngoài ra, một số nước không cấm hoàn toàn mà cấm theo khu vực hoặc theo sản phẩm. Trung Quốc cấm hoàn toàn các sản phẩm có hương liệu (mà TLĐT thì hầu hết có hương liệu).

     

    Ở nước ta, hiện các cơ quan chuyên môn của Chính phủ và Quốc hội đang tích cực xây dựng và đề xuất các cơ chế quản lý chặt chẽ đối với thuốc lá mới (trong đó có TLĐT) trong các kỳ họp Quốc hội tới.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây