Giao ban Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 Trung ương với cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 các tỉnh, thành phố
Dự hội nghị tại điểm cầu Công an tỉnh Thái Nguyên có đồng chí Thiếu tướng Bùi Đức Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công an tỉnh, Phó Trưởng Ban, Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo 57 tỉnh; đại diện các cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Công an tỉnh.
Báo cáo tại hội nghị nêu rõ, sau khi triển khai Quy định số 215 của Bộ Chính trị, Công an 34 tỉnh, thành phố đã chủ động tham mưu kiện toàn tổ chức, từng bước phát huy vai trò Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 địa phương. Công tác theo dõi, đôn đốc nhiệm vụ, tham mưu lựa chọn sản phẩm trọng tâm và điều phối xử lý “điểm nghẽn” đã có chuyển biến bước đầu. 34/34 địa phương đã rà soát, kê khai 916 nhiệm vụ, gắn với 908 sản phẩm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Các sản phẩm tập trung vào lĩnh vực gắn với lợi thế địa phương: nông nghiệp 229 sản phẩm (25,2%), công nghệ số, chuyển đổi số 167 (18,4%), y dược 141 (15,5%); nhóm công nghệ chiến lược 91 sản phẩm (10%) tại 16/34 địa phương. Tổng kinh phí thực hiện 2.368 tỷ đồng, trong đó nguồn ngoài ngân sách chiếm 22,2%.
Tại tỉnh Thái Nguyên, sau khi kiện toàn, Công an tỉnh - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 tỉnh đã phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan rà soát toàn bộ nhiệm vụ đang triển khai, tham mưu, tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quản lý bằng sản phẩm, tiến độ và kết quả thực hiện. Trọng tâm là các nhiệm vụ có tính liên ngành, liên lĩnh vực, gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Cơ quan Thường trực đã tham mưu Ban Chỉ đạo tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết số 57, Chương trình hành động số 62, Đề án số 22 và các kế hoạch của tỉnh thành các nhóm nhiệm vụ, gắn việc thực hiện với yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp sau sắp xếp. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, định hướng tham mưu tập trung vào các lợi thế và nhu cầu lớn của tỉnh gồm: Công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ; nông nghiệp công nghệ cao và nâng cao giá trị chè Thái Nguyên; công nghệ sinh học; y tế số; giáo dục STEM/STEAM; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, bán dẫn - điện tử; sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cách tiếp cận xuyên suốt là “tỉnh đặt bài toán - nhà khoa học, doanh nghiệp đề xuất giải pháp”, gắn ngay từ đầu nhiệm vụ nghiên cứu với đơn vị tiếp nhận và khả năng nhân rộng.
Cơ quan Thường trực đã tham mưu UBND tỉnh rà soát, lựa chọn sản phẩm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo năm 2026 là: “Nền tảng số truy xuất nguồn gốc và quản trị chuỗi giá trị chè Thái Nguyên”. Đây xác định là sản phẩm có giá trị kinh tế - xã hội cao, gắn trực tiếp với sản phẩm nông nghiệp chủ lực, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc của địa phương. Sản phẩm đồng thời có yếu tố của nhóm đổi mới sáng tạo phục vụ quản lý nhà nước và quản trị dữ liệu, do nền tảng cung cấp công cụ điều hành vùng nguyên liệu và bảo hộ thương hiệu cho cơ quan quản lý. Ngoài ra, nhiệm vụ miến dong trà xanh đã tạo 03 dòng sản phẩm (mỗi loại 200 kg), đã nộp hồ sơ đăng ký giải pháp hữu ích. Mục tiêu năm 2026 hoàn thành phiên bản 1.0 của nền tảng.
Về kho dữ liệu dùng chung và chất lượng dữ liệu của tỉnh, tính đến ngày 29/9 có 62/125 cơ sở dữ liệu (14 cấp Bộ, 48 cấp tỉnh) kết nối về kho dữ liệu dùng chung (49%), dung lượng trên 998GB; 77/125 cơ sở dữ liệu (62%) đáp ứng tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”; 100% sở, ngành ban hành văn bản làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu; dữ liệu tài chính, giáo dục, y tế, đất đai đã hiển thị trên Trung tâm điều hành thông minh (IOC). Đối với an ninh mạng và bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu, đã phát hiện, ngăn chặn, xử lý 145.101 mã độc trên 3.288 máy tính; 07/07 hệ thống quan trọng được giám sát 24/7; quy mô Trung tâm An ninh mạng tỉnh được đề xuất từ khoảng 10.000 lên khoảng 14.000 thiết bị đầu cuối.
Toàn tỉnh đã thu nhận hồ sơ căn cước cho 1.648.218/1.750.262 nhân khẩu (94,16%; trên 14 tuổi đạt 99,5%); đến ngày 04/96 đã kích hoạt định danh điện tử mức 2 cho 1.264.203/1.404.140 trường hợp (90%) và 7.430/7.482 doanh nghiệp, hợp tác xã có tài khoản định danh tổ chức (99%); 941.449 chữ ký số công cộng đang hoạt động (70,1% dân số trưởng thành); 50 tiện ích trên VNeID; từ 15/8 đến 14/9/2026 có 2.656/2.867 hồ sơ cấp phiếu lý lịch tư pháp được tiếp nhận qua VneID.v.v...
Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, đánh giá thực chất kết quả tham mưu, điều phối, thực hiện chức năng Cơ quan Thường trực của Công an địa phương; làm rõ nhiệm vụ đã triển khai, nguồn lực bố trí, hiệu quả thực tế và đề ra các giải pháp thực hiện trong thời gian tới.
Nguồn tin: Phòng Công tác chính trị
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn





Những căn nhà ấm tình quân dân
Những cuộc gọi lúc nửa đêm - Dấu ấn người chiến sĩ Công an trong lòng dân






